Cổng thông tin điện tử Dòng họ Vũ - Võ TP. Hải Phòng
Từ khoá tìm kiếm
top-image

NHÀ THỜ TỔ ĐỀN NAM HẢI (Từ đường dòng họ Vũ – Võ TP. Hải Phòng)

THẦN TỔ VŨ HỒN & PHU NHÂN HOÀNG THỊ CHÚC , CÙNG CÁC VỊ THÁNH ĐƯỢC TÔN THỜ TẠI NHÀ THỜ TỔ ĐỀN NAM HẢI

(Từ đường dòng họ Vũ - Võ TP. Hải Phòng)

TÓM TẮT THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP

1. Ngài Vũ Hồn và Phu nhân Hoàng Thị Chúc

Ngày 19/12/2022 (tức 26/11 năm Nhâm Dần), tượng Ngài Vũ Hồn (bên phải ảnh) và Phu nhân Hoàng Thị Chúc (bên trái ảnh) được làm lễ đúc bằng đồng đỏ & dát vàng, mỗi pho nặng 550kg. Đến ngày 10/01/2023 (tức 18/12 năm Nhâm Dần), dòng họ đã long trọng rước Tượng về và cử hành lễ hô thần nhập Tượng theo đúng nghi lễ truyền thống.

Thân thế

Ngài Vũ Hồn sinh ngày 08 tháng Giêng năm 804 (năm Giáp Thân). Thân phụ là Ngài Vũ Công Huy, người tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi ngoài 60 tuổi, tuy đã có vợ nhưng chưa có con, ông từ quan, du ngoạn sang Việt Nam và kết hôn với bà thôn nữ Nguyễn Thị Đức tại trang Thanh Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Sau đó, bà Đức sinh hạ một người con trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Vũ Hồn.

Sự nghiệp

Bảy tuổi, Vũ Hồn đã tỏ ra thông minh mẫn tiệp, đọc đâu nhớ đó. Năm 16 tuổi, ông tham gia thi Đình và đỗ bảng vàng. Vũ Hồn làm quan dưới triều nhà Đường, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Lễ bộ, Tả Thị lang, Đô đài Ngự sử, An Nam Kinh lược sứ.

Trong thời gian ở An Nam, ông thường về kính bái mộ tổ ngoại ở Nam Sách. Khi đến làng Lập Trạch, thấy nơi đây có phong thủy đẹp, địa thế “ngũ mã chầu về” – biểu tượng phát khoa bảng, ông liền cắm đất, đặt tên là trang Khả Mộ. Vũ Hồn vốn giỏi phong thủy, nên sau hơn 20 năm làm quan, ông từ quan, rước mẹ từ Trung Quốc về Việt Nam định cư tại đây.

Công đức

Về quê, ông ra sức chiêu dân lập ấp, khuyên bảo nhân dân làm việc thiện, ban phát tiền của giúp dân mua ruộng, an cư lạc nghiệp. Năm 850, thân mẫu qua đời, ông đưa về an táng tại trang Kiệt Đặc (nay thuộc phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

Tưởng niệm

Ngày 03 tháng 12 năm Quý Dậu (853), Ngài Vũ Hồn không bệnh mà mất, hưởng thọ 49 tuổi. Nhân dân và gia đình an táng ông tại khu đất phía Bắc làng. Lạ thay, chỉ sau một đêm, mối đã xông thành ngôi mộ lớn. Dân làng tâu trình, quan trên cho rằng đây là điềm linh thiêng, Ngài là người nhà Trời nên được thiên táng. Dân làng lập đền thờ, từ đó Ngài trở thành Đức Thần Tổ, vị Thành hoàng của làng, và tên làng được đổi thành Mộ Trạch.

Năm 2009, đình và miếu Mộ Trạch – nơi thờ Ngài – đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia.

Làng Mộ Trạch từ lâu nổi danh là “làng tiến sĩ”, “ổ tiến sĩ” của Việt Nam. Dưới thời Nho học, làng có 36 người đỗ tiến sĩ, trong đó có 1 Trạng nguyên, 11 Hoàng giáp. Riêng dòng họ Vũ (thủy tổ là Vũ Hồn) có tới 29 vị đỗ đại khoa, chiếm 81% số tiến sĩ của làng. Sự hiển đạt ấy, dân gian đều cho rằng là nhờ công ơn và sự phù hộ của Ngài Thần Tổ Vũ Hồn.

* Ghi chú: Thần Tổ Tỷ Hoàng Thị Chúc ( đang tìm hiểu thông tin chính thức sẽ cập nhật sau)


2. Ngài Vũ Quyến Hoa

Bài vị thờ Ngài Vũ Quyến Hoa được an trí tại vị trí ngoài cùng bên tay phải, tính từ ngoài nhìn vào trong gian thờ chính của Nhà thờ Tổ Đền Nam Hải (Từ đường dòng họ Vũ – Võ Hải Phòng).

Thân thế

Ngài Vũ Quyến Hoa, quê ở làng Gia Viên, huyện An Dương (nay là phường Gia Viên, TP. Hải Phòng).

Sự nghiệp

Sau khi tiêu diệt tên phản bội Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền nhanh chóng hành quân về vùng biển phía Đông để chuẩn bị lực lượng chống quân xâm lược Nam Hán, chọn trang Gia Viên làm hành cung – trung tâm chỉ huy chiến dịch.

Tại đây, ông đã tuyển chọn được bà Vũ Quyến Hoa – một phụ nữ tài năng, đầy nhiệt huyết với đất nước. Bà được giao phụ trách mọi công việc về quân lương phục vụ cho binh sĩ. Với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm, bà đã tổ chức tích lũy và vận chuyển lương thảo đầy đủ, bảo đảm hậu cần cho quân đội.

Công lao

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, đất nước giành độc lập, Ngô Quyền lên ngôi Vương, đóng đô tại Cổ Loa. Trong buổi bình xét công lao tướng sĩ, bà Vũ Quyến Hoa được phong tước Vũ Quận Quyến Hoa Công chúa.

Tưởng niệm

Sau khi mất, bà được nhiều triều đại sắc phong làm Thành hoàng làng Gia Viên. Đặc biệt, cuối triều Nguyễn, vua Bảo Đại ban sắc phong tôn bà là Thượng đẳng thần.

Trong tín ngưỡng dân gian, bà còn được tôn vinh ở vị trí Hội đồng Thánh Chúa trong hệ thống thờ Tứ phủ, Tam phủ. Dân gian gọi bà bằng nhiều danh xưng linh thiêng: Chúa Bà Bản Cảnh, Bà Chúa Ngũ Phương, hay Chúa Bà Nam phương.

Hiện nay, bà được thờ phụng tại nhiều làng xã, cộng đồng và tư gia. Hầu hết các nơi thờ Đức Vương Ngô Quyền đều phối thờ bà. Đặc biệt, Miếu Tiên Ngađình Gia Viên – nơi thờ Ngài – đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố.

3. Ngài Vũ Minh

Thân thế

Ngài Vũ Minh là người trang Hoàng Lâu, huyện An Dương (nay thuộc xã Hồng Phong, huyện An Dương, TP. Hải Phòng, sau sắp xếp từ 01.7.2025 là xã An Phong, thành phố Hải Phòng). Gia đình ông có bốn đời nối tiếp nhau có công khai lập trang ấp Hoàng Lâu. Thân phụ của ông kết hôn với một người con gái họ Trần ở ấp Lương Quy, sinh ra Vũ Minh.

Sự nghiệp

Thuở nhỏ, Vũ Minh nổi tiếng thông minh, hiếu học, sớm vang danh trong vùng. Năm Thiên Thuận thứ 2 (1129), đời vua Lý Thần Tông, giặc Chân Lạp sang xâm lược nước ta ở phía Nam. Vũ Minh xin tòng chinh, được vua Lý cho giữ chức Tả Nội vũ vệ, theo Lý tướng quân (Lý Thường Kiệt) đi dẹp giặc. Quân giặc bị đánh tan, ông lập công lớn và được ban chức Tham sự.

Năm thứ hai niên hiệu Thiệu Minh, đời Lý Anh Tông, có giặc nổi loạn ở vùng Thái Nguyên. Vũ Minh được cử làm Tán dực (chức quan võ), mang quân phối hợp cùng Thái úy Đỗ Anh Vũ đi đánh giặc. Sau chiến thắng, vua thăng chức cho ông làm Phó đô Hỏa đầu (quan võ phụ trách quân đội trong kinh thành).

Tưởng niệm

Sau một năm giữ chức, ông xin về quê an dưỡng tại trang Hoàng Lâu và mất tại đây. Do có nhiều công lao với dân với nước, nhân dân địa phương đã lập đền thờ, tôn vinh Ngài làm Phúc thần.

4. Ngài Vũ Chí Thắng

Thân thế
Ngài Vũ Chí Thắng sinh ra và lớn lên tại làng Hàng Kênh, huyện An Dương (nay là TDP Hàng Kênh, phường Lê Chân, TP. Hải Phòng). Thuở nhỏ, ông khôi ngô tuấn tú, tính tình khảng khái, có chí lớn, ham đọc sách và binh pháp. Ông có sức khỏe phi thường, tinh thông cả văn chương lẫn võ nghệ.

Sự nghiệp
Ngay từ trẻ, ông thường đi khắp nơi trong nước để vẽ bản đồ, ghi tên núi sông, chú thích các tuyến đường thủy, đường bộ, đường cái, đường tắt… rồi treo trong nhà để nghiên cứu và ghi nhớ.

Khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, ông cùng bạn bè chí hướng quyết tâm gánh vác việc đời, giữ gìn đất nước. Lúc bấy giờ, Trần Quốc Tuấn được cử làm Tổng chỉ huy quân đội. Vũ Chí Thắng đến ra mắt, được Vương tin dùng, cho làm việc bên cạnh. Mỗi khi bàn việc quân, ông đều đưa ra những kế sách đúng đắn, được Hưng Đạo Vương khen ngợi. Vương tiến cử, vua Trần phong cho ông chức Chỉ huy sứ, giao phó việc chăm nom, bố trí doanh trại và đồn lũy ở miền Đông.

Công lao
Trong kháng chiến chống Nguyên lần thứ ba (1287 – 1288), Vũ Chí Thắng đã có những dự đoán tài tình về hướng hành quân của giặc. Ông hiến kế chặn giặc ở sông Giá, buộc Ô Mã Nhi phải đi theo đường sông Đá Bạc, để rồi rơi vào trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng. Sau đại thắng, ông được phong chức Điện tiền Đô chỉ huy sứ (chỉ huy cấm quân trong triều), kiêm Chưởng cấm binh (tổng quản quân cấm vệ).

Tưởng niệm

Về già, ông trở lại quê hương, bỏ tiền chiêu tập lưu dân, quai đê, mở mang điền địa, mang lại đời sống ấm no cho nhân dân. Ngài thọ 72 tuổi. Sau khi mất, nhân dân tưởng nhớ, lập đền thờ tôn vinh công đức.

Nhiều triều đại đã ban sắc phong, tôn Ngài làm Phúc thần. Hiện nay, Ngài được thờ tại đình Đông, đình Từ Vũ (Phường Lê Chân, Hải Phòng), và đình Xích Thổ (xã Hồng Thái, huyện An Dương " Từ 01.7.2025 là xã An Hải, thành phố Hải Phòng"). Làng Xích Thổ còn tôn ông làm Thành hoàng, đình làng đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố. Đặc biệt, tại TDP Nghĩa Xá, phường Lê Chân, TP. Hải Phòng có một con đường mang tên Ngài.

5. Ngài Vũ Đăng Dũng

Thân thế

Ngài Vũ Đăng Dũng sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề chài lưới nghèo tại trang Đan Điền, Tứ Kỳ, Hải Dương (nay là thôn Cự Lai, xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng " Từ 01.7.2025 là xã Vĩnh Thuận, thành phố Hải Phòng). Thuở nhỏ, ông nổi tiếng có sức khỏe phi thường, vì vậy còn được gọi là Lực. Năm 13 tuổi, Vũ Đăng Dũng đã thông hiểu kinh sách, giỏi cả văn lẫn võ nghệ.

Sự nghiệp

Khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, ông chiêu mộ binh lính, lập đồn trên đất Cự Lai. Được nhân dân hết lòng ủng hộ, Vũ Đăng Dũng nhanh chóng trở thành một vị tướng chỉ huy đội hương binh đông đảo, rồi xin gia nhập vào quân triều đình. Ông được giữ chức Đô đốc Chỉ huy sứ tướng quân, dưới quyền Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Công lao

Ngài đã tham gia nhiều trận đánh lớn, trong đó có trận phá quân Nguyên ở Vạn Kiếp. Đặc biệt, trong chiến dịch Bạch Đằng ngày 9 tháng 4 năm 1288, Vũ Đăng Dũng trực tiếp chỉ huy đội phục binh, góp phần bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi, làm nên chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử dân tộc.

Tưởng niệm

Sau khi qua đời, Ngài được nhân dân tôn kính, suy tôn làm Thành hoàng và lập đền thờ tại quê hương Cự Lai. Nhiều triều đại ban sắc phong, tặng mỹ tự ca ngợi công đức của Ngài.
Hiện nay, đình Cự Lai (xã Vĩnh Thuận, thành phố Hải Phòng), nơi thờ Ngài, đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố.

6. Ngài Vũ Hải

Thân thế

Ngài Vũ Hải sinh ra tại trang Du Lễ (nay là xã Du Lễ, huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng " Từ 01.7.2025 là xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng). Thuở nhỏ, ông là cậu bé khôi ngô, tuấn tú. Lớn lên, ông có sức khỏe dồi dào, tính tình hiền hòa, biết kính trên nhường dưới, thường làm việc thiện giúp đỡ mọi người.

Sự nghiệp

Khi vua Trần chiêu mộ nhân tài đánh giặc cứu nước, Vũ Hải lên kinh đô ứng tuyển. Qua khảo thí, ông được nhà vua phong chức Phó đô Trung lang tướng (quan võ trong quân cấm vệ). Sau đó, ông theo Thái sư Trần Quang Khải chặn quân của Toa Đô từ Chiêm Thành tiến vào Nghệ An. Nhờ lập công lớn, ông được thăng chức Tả tham nghị, rồi cùng Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đánh tan giặc Nguyên ở sông Nhị Hà.

Đặc biệt, trong trận Tây Kết (1285), dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Trần, Vũ Hải cùng các tướng sĩ đã anh dũng chiến đấu, chém đầu tướng Toa Đô, góp phần quyết định vào thắng lợi vang dội.

Công lao và hy sinh

Sau thắng lợi của kháng chiến lần thứ hai (1285), Vũ Hải được phong chức Phó đô Ngự sử (giám sát quân sự) và được phép về quê an dưỡng.

Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba (1287 – 1288), giặc Nguyên tiếp tục xâm lược nước ta. Vũ Hải lại được vua phong làm Bạt Hải Hữu tướng quân, chỉ huy một đạo quân thủy trấn giữ tại cửa Than. Ông còn tuyển chọn thêm 40 trai tráng giỏi bơi lội ở quê hương bổ sung vào quân đội.

Trong một trận giao chiến ác liệt, dù bị thương nhiều lần, Vũ Hải vẫn kiên cường chiến đấu cho đến khi hy sinh tại cửa biển Đại Bàng. Ghi nhận công lao, nhà vua truy phong ông là Bạt Hải Đại vương.

Tưởng niệm

Sau khi mất, nhân dân lập đền thờ ngay tại tư dinh của ông để tưởng nhớ. Nhiều triều đại ban sắc phong, tôn ông làm Thành hoàng.

Hiện nay, Miếu Đông – nơi thờ Ngài tại xã Du Lễ " là xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng "– đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (1994). Ngoài ra, ông còn được thờ tại nhiều nơi khác như: Thạch Lựu (xã An Thái, huyện An Lão "01.7.2025 là Xã An Hưng, thành phố Hải Phòng"), làng Xuân La – Thanh Sơn, Xuân Dương – Mai Dương (xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy " từ 01.7.2025 là xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng)…

Trong nội thành Hải Phòng, quận Hồng Bàng có một con đường mang tên Vũ Hải để tưởng nhớ công lao của Ngài.

7. Ngài Vũ Nguyên

Thân thế

Ngài Vũ Nguyên sinh tại trang Do Lễ (nay thuộc TDP Tam Hưng, phường Nam Triệu, TP. Hải Phòng). Thuở nhỏ, ông là người ngoan ngoãn, hiếu thảo. Cha mất sớm, ngay từ khi trưởng thành, Vũ Nguyên đã phải đi cày thuê lấy tiền nuôi mẹ.

Sự nghiệp

Vừa lao động, Vũ Nguyên vừa chăm chỉ học hành, rèn luyện võ nghệ. Nhờ cần mẫn và có nghị lực, đến năm 21 tuổi, ông đã trở thành một thanh niên văn võ song toàn.

Một lần đang cày ruộng, Vũ Nguyên chứng kiến đoàn quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đi qua, dân làng đều bỏ chạy tránh, chỉ riêng ông vẫn thản nhiên cày ruộng. Quân lính lấy làm lạ, bẩm báo Hưng Đạo Vương. Khi được hỏi, Vũ Nguyên thưa: “Việc hành quân là việc hệ trọng của triều đình, có khi kéo dài hàng tháng. Còn tôi nghỉ buổi nào thì không có tiền nuôi mẹ già buổi ấy, chứ không có ý khinh suất.” Nghe vậy, Hưng Đạo Vương khen ông là người con chí hiếu và ban thưởng hai lạng bạc để phụng dưỡng mẹ.

Sau đó, biết Vũ Nguyên giỏi cả văn lẫn võ, Hưng Đạo Vương khuyên ông tòng quân đánh giặc cứu nước. Được mẹ già khuyến khích, ông đã nghe theo. Trong chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, Vũ Nguyên chiến đấu anh dũng, lập nhiều công lớn, góp phần vào thắng lợi lịch sử.

Công lao & Tưởng niệm

Sau chiến tranh, đất nước thái bình, ông được vua Trần giao nhiệm vụ trấn thủ vùng cửa biển. Khi mất, nhân dân làng Do Lễ nhớ công ơn, lập đền thờ và tôn ông làm Thành hoàng làng.
Hiện nay, đền Do Lễ (xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên " từ 01.7.2025 là phường Nam Triệu, TP. Hải Phòng) – nơi phụng thờ Ngài – đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố Hải Phòng.

8. Ngài Vũ Nạp

Thân thế

Ngài Vũ Nạp sinh ra tại làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Hồng Châu, trấn Hải Dương (nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương "từ 01.7.2025 là xã Đường An, thành phố Hải Phòng). Đây là vùng đất nổi tiếng là “ổ Tiến sĩ” của Việt Nam. Theo gia phả họ Vũ Mộ Trạch, Ngài là hậu duệ của Vũ Hồn. Thuở nhỏ, Vũ Nạp ham học hỏi, thông minh, tinh thông cả văn lẫn võ, am hiểu Nho học và Phật học.

Sự nghiệp

Dưới triều Trần Thái Tông, triều đình mở khoa thi Tam giáo. Vũ Nạp dự thi và đỗ Ất khoa, trở thành người khai khoa, cắm cờ Tư văn của họ Vũ làng Mộ Trạch. Ông được bổ nhiệm giữ chức Tăng thống Hàn lâm viện.

Theo phả hệ họ Vũ Mộ Trạch, Vũ Nạp đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông. Trong chiến dịch Bạch Đằng năm 1288, ông giữ chức Phó tướng dưới quyền Trần Quốc Bảo (cháu vua Trần). Trần Quốc Bảo được giao phòng thủ vùng ven biển, đóng quân tại dãy núi đá Tràng Kênh. Vũ Nạp cùng Trần Quốc Bảo nhiều lần giao chiến quyết liệt với quân Ô Mã Nhi ở vùng An Bang (nay thuộc Quảng Yên, Quảng Ninh).

Trong một trận quyết chiến, Trần Quốc Bảo bị trọng thương và qua đời. Vũ Nạp thay ông tiếp tục chỉ huy quân sĩ chiến đấu và lập công lớn trong chiến dịch Bạch Đằng. Sau thắng lợi, Vũ Nạp được vua Trần ban phong tước Đông Giang hầu.

Tưởng niệm

Khi Ngài qua đời, nhân dân vùng Tràng Kênh tưởng nhớ công đức, lập đền thờ phụng. Dưới triều Nguyễn, vua Tự Đức ban sắc phong, thần hiệu, tôn Ngài làm Phúc thần. Hiện tại, bia đá dựng thời Hậu Lê (thế kỷ XVIII) và triều Minh Mạng (Nguyễn) tại xã An Lư, thị trấn Minh Đức vẫn còn ghi rõ danh hiệu: “Vũ tướng quân, Đồng Giang hầu”.

Đền thờ Ngài Vũ Nạp hiện tọa lạc trong khu di tích đền Trần Quốc Bảo (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng). Gần đền có hai cây gạo cổ thụ từ thời Trần, được vinh danh là “Cây Di sản Việt Nam”. Dân gian truyền rằng, hai cây gạo ấy chính là biểu tượng của hai vị tướng trung liệt: Trần Quốc BảoVũ Nạp.

9, 10. Ngài Vũ Dao và Ngài Vũ Sào

Thân thế

Ngài Vũ DaoVũ Sào là anh em song sinh, quê ở làng Vĩnh Khê (nay thuộc xã An Đồng, huyện An Dương, TP. Hải Phòng " Từ 01.7.2025 là phường An Hải, thành phố Hải Phòng").

Thân phụ là ông Vũ Quỳnh, gốc Châu Ái, vốn là đạo sĩ, nhà phong thủy nổi tiếng. Tương truyền, khi đến trang Vĩnh Khê, ông đã trừ yêu quái quấy nhiễu dân làng và được giới thiệu kết duyên cùng bà Lê Thị Đoan, người địa phương.

Đến tuổi gần 50, ông Quỳnh vẫn chưa có con. Một đêm, bà Đoan nằm nghỉ thì mộng thấy hào quang từ mặt trăng bao phủ thân mình. Trong mộng, có một lão ông dắt theo hai đồng tử đến và nói: “Gia đình họ Vũ trước có công trừ yêu quái, cứu giúp nhân dân, Thượng đế đã ghi nhận. Nay cho hai đồng tử xuống đầu thai làm con nhà họ Vũ.”

Sau đó, bà mang thai, đến ngày mồng 7 tháng Giêng, năm Đinh Sửu, sinh đôi hai người con trai. Ngay từ nhỏ, hai ông đã toát ra thần khí, khỏe mạnh khác thường, lớn lên được cha dạy cả văn lẫn võ, thông tuệ văn chương, tinh tường võ nghệ, kiếm pháp.

Sự nghiệp

Khi trưởng thành, hai ông nổi tiếng tài năng, được nhiều hào mục và anh tài trong vùng kết giao. Đến thời vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369), do vua băng hà không có con nối, Dương Nhật Lễ chiếm ngôi, cải niên hiệu thành Đại Định, sát hại Hoàng Thái hậu cùng nhiều trung thần.

Trong biến loạn ấy, vua Trần Nghệ Tông cùng thân quyến phải chạy sang vùng Đà Giang lánh nạn. Hai ông Vũ Dao, Vũ Sào tập hợp được 200 thuộc hạ, tìm đến phò tá. Ngay khi yết kiến, vua phong Vũ Dao làm Thái úy, Vũ Sào làm Trung lang tướng. Tháng 11 năm Canh Tuất (1370), vua lệnh Vũ Dao làm tướng tiên phong, chỉ huy 5.000 tinh binh tiến đánh Dương Nhật Lễ, còn Vũ Sào làm hậu ứng. Sau thắng lợi, vua phong Vũ Dao tước Đại Trung Nghĩa lang, Tả bộc xạ Trung Thánh công, Vũ Sào tước Nam Hiến Sát Sứ công. Tuy nhiên, cả hai ông đều xin không nhận chức tước, xin trở về quê.

Về lại Vĩnh Khê, hai ông chiêu mộ trai tráng, lập đội tuần kiểm soát sông biển, giữ gìn an ninh trật tự. Nhờ đó, trong một năm, vùng cửa sông biển yên bình, nhân dân no ấm. Vua ban thưởng cho làng Vĩnh Khê được miễn sưu thuế, binh dịch trong một năm.

Hy sinh và công lao

Năm Thiệu Khánh thứ 2 (1371), quân Chiêm Thành do mẹ của Nhật Lễ cầu viện kéo sang báo thù. Trong tình thế nguy cấp, vua lệnh hai ông hộ giá thuyền ngự sang vùng Đông Ngàn tránh giặc. Tại bến sông Vĩnh Giang, quân Chiêm truy kích thuyền vua. Trong cơn nguy nan, Vũ Sào đã cho thuyền áp sát thuyền vua, nhanh trí đưa thuyền ngự sang thuyền nhẹ để kịp thoát sang sông Nam Sách. Nhờ đó, vua thoát nạn. Hai ông chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh vào ngày 15 tháng Chạp năm ấy.

Sau chiến loạn, đất nước thái bình, triều đình phong tặng:

  • Vũ Dao: “Trung Thánh Đại Vương”
  • Vũ Sào: “Hùng Vũ Đại Vương”

Vua còn ban 300 lượng bạc, chiếu cho dân làng dựng miếu thờ.

Tưởng niệm

Nhân dân Vĩnh Khê đời đời biết ơn, phụng thờ hai Ngài làm Thành hoàng làng. Nhiều triều đại về sau tiếp tục ban sắc phong, thần hiệu, ghi nhận công đức.
Đình Vĩnh Khê – nơi thờ hai Ngài – được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (1994). Lễ hội vật truyền thống tổ chức hằng năm vào ngày 7 tháng Giêng – ngày sinh hai Ngài – đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (2018).

11. Ngài Vũ Trực Hành

Thân thế

Ngài Vũ Trực Hành sinh năm 1467, quê tại làng An Lư, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn (nay là TDP An Lư, Phường Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng). Năm mất của Ngài hiện không rõ.

Sự nghiệp

Năm Quý Sửu (1493), niên hiệu Hồng Đức thứ 24, đời vua Lê Thánh Tông, Vũ Trực Hành dự khoa thi Đình và đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân. Đây là một thành tựu lớn, góp phần làm rạng danh cho quê hương An Lư và dòng họ Vũ - Võ Hải Phòng

Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm quan, từng giữ chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên – một chức vụ quan trọng, đảm trách việc cai quản kinh thành. Trong thời gian làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm, chính trực, có nhiều công lao giúp đỡ nhân dân địa phương.

Tưởng niệm

Sau khi qua đời, nhân dân làng An Lư nhớ ơn lập miếu thờ, tôn Ngài làm Phúc thần. Miếu thờ và phần mộ của Ngài hiện vẫn còn, nằm trong khuôn viên Nhà thờ Tổ Đền Nam Hải (xã An Lư, huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng " Nay là Phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng"). Đây là địa chỉ tâm linh quan trọng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân địa phương và con cháu dòng họ Vũ – Võ thành phố Hải Phòng.

12. Ngài Vũ Đình Đề

Thân thế

Ngài Vũ Đình Đề, tên hiệu là Thái Giám Đô đốc, hiện không rõ năm sinh và năm mất.

Sự tích

Theo truyền ngôn của nhân dân địa phương, Ngài hiển thánh vào thời Lê, song sự tích cụ thể không còn được ghi chép rõ ràng. Dù vậy, hình tượng và công đức của Ngài vẫn được lưu truyền qua đời này sang đời khác như một vị thần linh hộ quốc, an dân.

Tưởng niệm

Ngài được nhân dân tôn thờ làm Thành hoàng tại đình làng Lôi Trạch, tổng Ngải Am, phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương xưa (nay là thôn Lôi Trạch, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng " Từ 01.7.2025 là xã Nguyễn Bỉnh Kiêm, thành phố Hải Phòng).

Đình Lôi Trạch – nơi phụng thờ Ngài – đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa của thành phố Hải Phòng, trở thành địa chỉ tâm linh quan trọng, thể hiện lòng tri ân và sự tưởng nhớ của nhân dân đối với Ngài.

13. Ngài Vũ Quốc Tuấn

Thân thế

Tài liệu lịch sử và truyền ngôn địa phương hiện chưa ghi chép rõ về thân thế và sự nghiệp của Ngài Vũ Quốc Tuấn.

Sự tích

Dù sự tích không còn lưu giữ đầy đủ, nhưng nhân dân địa phương vẫn truyền tụng Ngài là bậc tiền nhân có công đức, được tôn thờ làm Thành hoàng của xã Sơn Đông, tổng Cẩm Khê, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương xưa (nay là thôn Sơn Đông, xã Tiên Thắng, huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng " từ 01.7.2025 là xã Tiên Minh, thành phố Hải Phòng).

Tưởng niệm

Ngài được phối thờ tại miếuđình làng Sơn Đông. Đây là nơi nhân dân sở tại thường xuyên hương khói, tưởng niệm, bày tỏ lòng thành kính, đồng thời cũng là không gian văn hóa – tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng.

Ý nghĩa

Việc tôn thờ Ngài Vũ Quốc Tuấn không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn góp phần gìn giữ nền tảng văn hóa tâm linh của cư dân vùng Tiên Lãng. Các nghi lễ hương khói tại miếu, đình làng Sơn Đông vừa là hoạt động tín ngưỡng, vừa là dịp gắn kết cộng đồng, giáo dục thế hệ trẻ về lòng tri ân tổ tiên, về công đức của những bậc tiền nhân trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

14. Ngài Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn

Thân thế

Ngài Vũ Thị Ngọc Toàn, người làng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn (nay là thôn Trà Hương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng " từ 01.7.2025 là xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng ). Quê hương bà nổi tiếng với những người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh, được lưu truyền trong câu ca:

“Cổ Trai Đế vương, Trà Hương Công chúa.”

Bà trở thành vợ chính thất, được phong Hoàng hậu của vua khai sáng triều Mạc – Mạc Đăng Dung.

Sự nghiệp

Mặc dù sử chính thống không ghi chép nhiều về bà, song sử liệu điền dã và các văn bia thời Mạc lại lưu giữ nhiều dấu tích quan trọng. Các bia ký đều ca ngợi công đức của bà. Chẳng hạn, văn bia trùng tu chùa Bảo Lâm (xã Trâu Bộ, huyện Giáp Sơn) đã tôn xưng:
“Là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành Nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn (nhà Hạ).”

Trong dân gian Kiến Thụy, An Lão, vùng đất ven đầm từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn còn được gọi là “Dải yếm Bà Chúa”, vốn là ruộng Thái hậu ban cho dân sở tại.

Bà tham gia hưng công, xây dựng, trùng tu nhiều chùa chiền, cầu, quán, chợ trên khắp các địa phương: chùa Sùng Quang (Vĩnh Lại), chùa Thánh Thọ (Cẩm Bình), chùa Sùng Ân (Phù Tiên), chùa Bảo Phúc (Yên Hưng), chùa Báo Ân (Phù Tiên), chùa Phổ Chiếu và chùa Hòa Liễu (Kiến Thụy), chùa Bà Đanh (Trà Hương), chùa Trúc Am (Du Lễ), chùa Hà Lâu (Tiên Minh), chùa Minh Phúc và cầu quán Cẩm Khê (Tiên Lãng)… Nơi nào có bà công đức, thường có sự tham gia của hoàng thân quốc thích, bá quan văn võ, tạo nên sức lan tỏa rộng khắp.

Bà còn được thờ làm Thành hoàng tại xã Hòa Liễu (nay là thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, Kiến Thụy). Sau này, khi ở ngôi vị Thái Hoàng Thái hậu (bà nội của Hoàng đế đương triều), tên tuổi và công đức của bà vẫn xuất hiện dày đặc trong các văn bia. Bia “Hà Lâu tự bi” (xã Đông Minh, Tiên Lãng), dựng năm Hưng Trị thứ 2 (1589), còn ghi rõ công đức của Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cùng hoàng tộc trong việc tu tạo chùa.

Tưởng niệm

Nhân dân nhiều vùng ven biển, nhất là ở Kiến Thụy, Tiên Lãng, An Lão vẫn lưu truyền sự tích và công đức của bà. Các ngôi chùa, miếu, đình gắn với tên tuổi của bà hiện đều là những địa chỉ văn hóa – tín ngưỡng quan trọng.

Ý nghĩa

Có thể khẳng định, Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn là một trong những bậc phụ nữ tiêu biểu của lịch sử Việt Nam thời trung đại, không chỉ gắn với triều đại Mạc mà còn để lại công lao to lớn trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa Phật giáo, tín ngưỡng dân gian. Hầu hết các công trình bà công đức ngày nay đều đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh và cấp quốc gia, minh chứng cho dấu ấn bền vững của bà trong lịch sử dân tộc.

15. Ngài Vũ Tường

Thân thế

Không rõ năm sinh, năm mất của Ngài. Quê ở làng Tiên Minh, huyện Tiên Minh (nay là thôn Tiên Lãng, xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng " từ 01.7.2025 là xã Tiên Minh, thành phố Hải Phòng).

Sự nghiệp

Năm Quý Mùi (1523), niên hiệu Thống Nguyên, đời vua Lê Cung Hoàng, ông dự khoa thi Đình và đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Sau đó, ông được bổ dụng và làm quan đến chức Giám sát ngự sử – một chức quan quan trọng trong bộ máy triều đình, chuyên giám sát, kiểm tra hoạt động của quan lại. Trong quá trình làm quan, ông nổi tiếng là người cương trực, có nhiều công lao với triều đình và nhân dân.

Tưởng niệm

Sau khi mất, ghi nhớ công lao và đức hạnh của ông, triều đình và nhân dân đã suy tôn Ngài làm Phúc thần để phụng thờ, ngưỡng vọng.

16. Ngài Vũ Khắc Kế

Thân thế

Ngài Vũ Khắc Kế sinh năm 1524, năm mất không rõ, quê ở làng Tràng Duệ, huyện An Dương, phủ Kinh Môn (nay là thôn Tràng Duệ, xã Lê Lợi, huyện An Dương, TP. Hải Phòng " từ 01.7.2025 là xã An Hải, thành phố Hải Phòng").

Sự nghiệp

Khoa thi Đình năm Quý Sửu (1553), niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6, đời Mạc Tuyên Tông, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Sau đó được bổ dụng làm quan đến chức Thượng thư, tước An Chân Hầu.

Theo truyền ngôn địa phương, khi cáo quan về trí sĩ, ông đã mở trường dạy học, truyền bá tri thức, đồng thời bỏ nhiều tiền của giúp dân phát triển sản xuất, chăm lo đời sống. Nhờ đức độ và công lao to lớn ấy, Ngài được nhân dân kính trọng, tôn vinh.

Đặc biệt, dù làm quan dưới triều Mạc, song tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn được ghi nhận trong nhiều bia ký Nho học:

  • Bia “Bản huyện văn thuộc bi” dựng năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764), đời Lê Hiển Tông, tại Văn từ hàng huyện đình Hàng Kênh, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, có khắc ghi tên ông.
  • Bia “Các nhà khoa bảng” dựng niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850) tại miếu Lục Kiều, bát xã, làng Đào Yêu, có ghi ông từng giữ chức Tả Thị lang Bộ Hộ, tước An Chân Hầu, được gia tặng danh hiệu “Mẫn đạt An sinh Đại vương”.

Tưởng niệm

Sau khi mất, nhân dân làng Tràng Duệ đã lập đền thờ, suy tôn ông làm Thành hoàng. Đình Tràng Duệ – nơi phụng thờ Ngài – đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994.

16. Ngài Vũ Khắc Kế

Thân thế

Ngài Vũ Khắc Kế sinh năm 1524, năm mất không rõ, quê ở làng Tràng Duệ, huyện An Dương, phủ Kinh Môn (nay là thôn Tràng Duệ, xã Lê Lợi, huyện An Dương, TP. Hải Phòng từ 01.7.2025 là xã An Hải, thành phố Hải Phòng").

Sự nghiệp

Khoa thi Đình năm Quý Sửu (1553), niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6, đời Mạc Tuyên Tông, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Sau đó được bổ dụng làm quan đến chức Thượng thư, tước An Chân Hầu.

Theo truyền ngôn địa phương, khi cáo quan về trí sĩ, ông đã mở trường dạy học, truyền bá tri thức, đồng thời bỏ nhiều tiền của giúp dân phát triển sản xuất, chăm lo đời sống. Nhờ đức độ và công lao to lớn ấy, Ngài được nhân dân kính trọng, tôn vinh.

Đặc biệt, dù làm quan dưới triều Mạc, song tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn được ghi nhận trong nhiều bia ký Nho học:

  • Bia “Bản huyện văn thuộc bi” dựng năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764), đời Lê Hiển Tông, tại Văn từ hàng huyện đình Hàng Kênh, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, có khắc ghi tên ông.
  • Bia “Các nhà khoa bảng” dựng niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850) tại miếu Lục Kiều, bát xã, làng Đào Yêu, có ghi ông từng giữ chức Tả Thị lang Bộ Hộ, tước An Chân Hầu, được gia tặng danh hiệu “Mẫn đạt An sinh Đại vương”.

Tưởng niệm

Sau khi mất, nhân dân làng Tràng Duệ đã lập đền thờ, suy tôn ông làm Thành hoàng. Đình Tràng Duệ – nơi phụng thờ Ngài – đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994.

17. Ngài Vũ Cương Nghị

1. Thân thế

Ngài Vũ Cương Nghị sinh tại làng Trung Hành, huyện An Dương, phủ Kinh Môn (nay là tổ dân phố Trung Hành, phường Hải An, TP. Hải Phòng). Họ Vũ làng Trung Hành vốn là dòng họ thế phiệt nổi tiếng trong vùng. Thân phụ là Vũ Vĩnh Thái, em trai là Vũ Khắc Phục. Cả ba cha con đều có công phò tá vương triều Mạc, nên ược phong tước Quận công

Ngài kết hôn với công chúa Mạc Ngọc Hoa, con gái vua Mạc Phúc Nguyên (1547 – 1561).

2. Sự nghiệp

Ngài Vũ Cương Nghị được phong giữ nhiều chức vụ và tước vị quan trọng: Tây quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Hữu Thiếu bảo, Triều Quận Công; khi mất được gia tặng là Uy Linh Đại Vương. Triều Nguyễn sau này truy phong Ngài với mỹ tự: Thủy phủ Vũ Bảo Trung Hưng chi thầnQuang Từ Trung đẳng thần. Người em, Vũ Khắc Phục, cũng được phong Nam quân Đô đốc Tả, Thiếu bảo Tài Quận Công.

Khi triều Mạc suy vi, Vũ Khắc Phục theo Trịnh Tùng để bảo toàn gia quyến. Riêng Vũ Cương Nghị vẫn kiên trung chỉ huy bảo vệ vùng biển phía Đông cho triều Mạc và đã anh dũng hy sinh trong chiến trận.

Ngoài sự nghiệp quân sự, sử liệu địa phương còn ghi rằng ông có công đắp đê ngăn nước mặn, mở mang đồng ruộng, giúp nhân dân ổn định cuộc sống.

3. Tưởng niệm

Do có công lớn với triều đình và nhân dân, sau khi mất, Ngài được nhiều làng như Thượng Đoạn Xá, Định Vũ, Vạn Mỹ, Hạ Đoạn… tôn vinh làm Thành hoàng làng và lập đền, miếu phụng thờ. Đình Thượng Đoạn Xá (phường Đông Hải, Hải Phòng), nơi thờ Ngài, đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố.

Nhiều địa phương còn bảo lưu sắc phong triều Nguyễn ban cho Ngài, tiêu biểu như:

  • Hạ Đoạn giữ sắc phong vua Thành Thái nguyên niên (1889) và sắc phong vua Khải Định năm thứ 9 (1924), đều ghi tôn hiệu Ngài là “Tả Đô đốc, Thiếu bảo, Quận Công, Vũ Tướng công”, gia tặng Quang Ý Trung đẳng thần.
  • Nhà thờ họ Vũ làng Trung Hành còn lưu 2 sắc phong khác của vua Duy Tân và Khải Định, khẳng định duệ hiệu, mỹ tự và phẩm trật thần của Ngài.

Đặc biệt, trong hai bia đá ghi danh các bậc tiên hiền của tổng Trung Hành, dựng năm Giáp Thân (1824, đời Minh Mạng) và năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), tại Văn từ làng Trung Hành, đều khắc rõ tên, chức tước, phẩm hàm của Ngài, kèm theo thần hiệu “Uy Linh Đại Vương”.

18. Ngài Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thân thế

Ngài Võ Nguyên Giáp (bí danh Văn), sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; mất ngày 04/10/2013 tại Hà Nội, thọ 103 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, sớm được hun đúc tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm của quê hương Quảng Bình. Trước khi bước vào con đường quân sự, ông từng dạy học, làm báo, viết văn và tham gia các tổ chức yêu nước.

Sự nghiệp cách mạng và quân sự

  • 1925 – 1930: Tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước; gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, sau đó vào Đảng Cộng sản Đông Dương (1931).
  • 1940: Cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
  • 12/1944: Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Các dấu mốc quan trọng:

  • 1945: Trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám, giành chính quyền.
  • 1946 – 1954: Chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) – “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
  • 1954 – 1975: Trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ông chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
  • Sau 1975: Tiếp tục giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng phụ trách khoa giáo – kỹ thuật, Bộ trưởng Quốc phòng (đến 1980).

Công lao và tư tưởng

  • Là vị tướng đầu tiên, duy nhất được phong Đại tướng (1946) khi chưa qua trường lớp quân sự chính quy.
  • Được coi là một trong những danh tướng kiệt xuất thế kỷ XX, sánh ngang với các danh tướng thế giới.
  • Ngoài quân sự, ông còn là nhà giáo, nhà báo, nhà nghiên cứu sử học, để lại nhiều công trình khoa học có giá trị về chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
  • Nhân dân trìu mến gọi ông là “Anh Văn”, người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “vị tướng của nhân dân”.

Vinh danh và tưởng niệm

  • Được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, cùng nhiều huân chương, huy chương quốc tế.
  • Tên ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học, công trình trong và ngoài nước.
  • Ngày 04/10/2013, ông qua đời tại Hà Nội. Tang lễ cấp Nhà nước được tổ chức trọng thể; hàng triệu người dân cả nước cùng bạn bè quốc tế bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn.

Đại tướng Võ Nguyên GiápTổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, một nhà quân sự thiên tài, một nhà văn hóa lớn, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để lại dấu ấn bất tử trong lịch sử dân tộc và thế giới.

Di tích và công trình tưởng niệm

  • Khu mộ Đại tướng tại Vũng Chùa – Đảo Yến (Quảng Bình): Sau khi qua đời, Đại tướng được an táng tại Vũng Chùa – Đảo Yến, bên dãy Hoành Sơn, nơi nhìn ra biển Đông quê hương. Đây đã trở thành địa chỉ thiêng liêng để đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến thăm viếng, tưởng niệm.
  • Tượng đài và công trình lưu niệm: Tên tuổi của Đại tướng được khắc ghi qua nhiều tượng đài, nhà lưu niệm, công trình công cộng tại Quảng Bình, Hà Nội và nhiều địa phương khác. Tiêu biểu có Tượng đài Võ Nguyên Giáp tại Quảng Bình, nhà lưu niệm Đại tướng ở Lệ Thủy, cùng nhiều khu trưng bày chuyên đề trong các bảo tàng quân đội.
  • Tên đường, trường học: Hàng trăm con đường, trường học, quảng trường trong và ngoài nước đã được đặt theo tên ông, thể hiện sự tôn kính và lòng biết ơn sâu nặng của nhân dân.

Vũ Hồng Trường, Vũ Quốc Hân
Biên tập & biên soạn: Từ các nguồn tư liệu tham khảo do Bảo tàng HP cung cấp

  1. Danh mục thần tích, thần sắc thành phố Hải Phòng, hiện lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội Việt Nam.
  2. Di sản văn hóa tiêu biểu huyện An Dương, Nxb. Hải Phòng, 2023.
  3. Nhân vật lịch sử Hải Phòng (Tập 1), Nxb. Hải Phòng, 1998.
  4. Những ông Nghè đất Cảng, Nxb. Hải Phòng, 1994.
  5. Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng, Nxb. Hải Phòng, 1998.
  6. Văn bia thời Mạc, Nxb. Hải Phòng, 2010.
  7. Một số bia đá niên đại thế kỷ XVII, XVIII, XIX còn bảo tồn ở các địa phương Hải Phòng, ghi chép về nhân vật lịch sử họ Vũ.
  8. Một số hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và cấp thành phố liên quan đến các di tích phụng thờ các vị thánh họ Vũ.
  9. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

Ghi chú: Một số bài vị sẽ được cập nhật vào bài viết sau

FACEBOOK

zalo

ZALO

zalo Kênh Zalo Kênh Facebook